Từ nghi án PCI: Xem xét lại cơ chế về quản lý và giám sát nguồn vốn ODA

small 192999 Từ nghi án PCI: Xem xét lại cơ chế về quản lý và giám sát nguồn vốn ODABài học rút ra không chỉ là vốn trong nước hay nước ngoài, mà đã sử dụng vốn, đã đầu tư tài chính thì phải có cơ chế giám sát, kiểm tra để bảo đảm hoạt động minh bạch, tránh tiêu cực. Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền chia sẻ nhân vụ tiêu cực xảy ra tại dự án xây dựng Đông – Tây và môi trường nước TP HCM (PCI)- dự án sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản.

Theo ông Truyền, qua vụ Đại Lộ Đông – Tây thấy rằng tiêu cực xuất phát từ cán bộ người Nhật chứ không phải do cán bộ chúng ta tự tiêu cực. Sau khi vụ việc được phía Nhật Bản phanh phui, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo cương quyết xử lý nghiêm việc này. Cần phải nói rõ điểm này nếu không nước ngoài sẽ hiểu nhầm rằng Chính phủ Việt Nam và các cán bộ Việt Nam toàn tiêu tực. Sau khi xử lý, chúng ta sẽ rút kinh nghiệm trong việc thực hiện cơ chế phối hợp quản lý vốn ODA như thế nào, nếu không có quá trình kiểm soát chặt chẽ thì sẽ có sự “liên kết” từ các nhà thầu nước ngoài với cán bộ quản lý của chúng ta và sẽ nảy sinh tiêu cực.

Trong vụ Đại lộ Đông – Tây, chúng ta bị bất ngờ là vì nghĩ rằng Nhật Bản là đối tác quản lý chặt chẽ nhất, gần như đáng tin cậy nhất trong số các đối tác vì thế mới để xảy ra vụ việc gần như nghiêm trọng nhất?

Tôi nghĩ rằng, bất cứ ai quản lý, nếu không có cơ chế giám sát chặt chẽ đều có thể xảy ra tiêu cực cả. Không phải riêng chúng ta có tiêu cực mà cả nước ngoài cũng có tiêu cực. Việc trước đây người Nhật nói rằng họ rất kiên quyết trong việc chống tiêu cực nhưng qua việc này thấy rằng tiêu cực cũng đã xảy ra ở phía họ. Bài học rút ra là không chỉ là vốn trong nước hay nước ngoài, mà đã sử dụng vốn, đã đầu tư tài chính thì phải có cơ chế giám sát, kiểm tra để bảo đảm hoạt động minh bạch, tránh tiêu cực.

Nhiều ý kiến cho rằng có dự án là có sự “lobby” đằng sau, khi chúng ta vay vốn thì phải cho người của họ thực hiện dự án?


Ở nước ta chưa có khái niệm “lobby”, ở nhiều nước họ cho phép việc này nhưng ở chúng ta cứ chi ra một đồng để đưa cho người này, người kia nhằm đạt được mục đích cũng bị coi là tiêu cực. Cộng thêm cái gọi là quà biếu nữa, nếu không minh bạch cũng bị coi là tiêu cực. Thấy rằng chúng ta phải chặt chẽ trong quản lý người của chúng ta, mặc dù vốn đầu tư của nước ngoài do nước ngoài quản lý nhưng họ quản lý trên lãnh thổ của chúng ta thì chúng ta cũng phải có cơ chế để giám sát, để biết được họ quan hệ với ai và làm việc như thế nào để tránh trường hợp đến khi họ phát hiện ra tiêu cực thì mình mới “ngã ngửa” ra.


Liệu có điều ràng buộc nào là cứ vốn của nước nào thì nhà đầu tư của nước đó?


Theo tôi, không có sự ràng buộc nào cả mà là chúng ta cũng muốn ưu tiên để tranh thủ vốn.


Qua các dự án thanh tra thì thực tế có bao nhiêu % vốn của nước ngoài sau khi “rót” vào sẽ nằm lại ở Việt Nam và bao % sẽ quay trở lại nước họ, thưa ông ?


Chưa thể đánh giá được, chúng tôi thanh tra chỉ căn cứ vào việc thực hiện chính sách pháp luật, đánh giá việc triển khai thực hiện để phát hiện cái nào đúng sai? Trong cái đúng sai thì cái nào sẽ mất hẳn, cái nào có thể khắc phục thu hồi. Còn cái tiêu cực mà họ “đi đêm với nhau” không chỉ nước ngoài mà trong nước cũng có. Tôi cũng nghe thấy rằng, các dự án trong nước họ cũng có qua lại và được gọi là hoa hồng dự án. Nhưng cũng chẳng ai đánh giá được nó là bao nhiêu %.


Ông bình luận như thế nào khi có một số ý kiến cho rằng, khi các dự án vào Việt Nam thì số vốn ở lại chỉ khỏang 40- 60%, còn lại là quay về chỗ cho vay?


Họ đánh giá thế nào là quyền của họ còn tôi cho rằng vốn ODA họ quản lý rất chặt, nếu mà đánh giá như các chuyên gia kia thì có phải họ “ăn” gần hết chăng? Nên tôi nghĩ không phải như vậy đâu và Chính phủ của họ cũng không cho phép các chuyên gia của mình làm thế. Tất nhiên cũng có thất thoát nhưng cũng không đến mức như vậy..


Được biết, qua thanh tra các dự án ODA khác, Thanh Tra Chính phủ từng đã phanh phui ra sai phạm nhưng gặp nhiều trở ngại trong xử lý?


Nói chung là khó ở chỗ đến khi Thanh tra thì họ đã kết thúc dự án từ lâu rồi, ví dụ như Đường 5, đến thời điểm thanh tra thì họ đã mang hồ sơ về bên nước họ hết rồi. Giờ mình thanh tra thì chỉ có thanh tra phần quản lý của Việt Nam. Sau này chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ phải có ý kiến với các đối tác nước ngoài rằng đã là hồ sơ thì phải hai bên cùng giữ, đã nói quyết toán minh bạch thì phải hai bên cùng quyết toán, khi Việt Nam thực hiện quyết toán với nước ngoài rồi thì phía Việt Nam cũng phải chịu trách nhiệm. Sau này khi Thanh tra phát hiện tiêu cực thì cả hai phía cùng phải chịu trách nhiệm.


Trong dự án đường 5 chúng ta cũng phát hiện ra đối tác có những sai phạm nhất định vậy vì sao không tiến hành kiến nghị xử lý?


Vì theo quy định thì Dự án đã kết thúc từ lâu nên không còn thời hiệu để xử lý nữa và họ đã về nước nên chúng ta đành kiểm điểm rút kinh nghiệm thôi. Với lại cơ chế quản lý tại thời điểm đó không đặt vấn đề truy xét.


Qua vụ việc Đại lộ Đông Tây, ông có thấy rằng cần phải thanh tra lại toàn bộ các dự án sử dụng nguồn vốn ODA và có cách nào đó để thanh tra hiệu quả?


Xét về mặt Thanh tra thì chúng tôi đều đặt trong tổng thể kinh tế xã hội để tiến hành thanh tra, trong đó Thanh tra các ngành, địa phương đều phải có trách nhiệm thanh tra cả. Ngành nào chịu trách nhiệm về nguồn vốn đó thì họ sẽ chịu trách nhiệm thanh tra chuyên sâu. Chúng tôi không thể ôm hết mà chỉ tiến hành thanh tra những dự án quan trọng thấy rằng nó có thể chi phối đến nền kinh tế quốc dân, chi phối đến hoạt động các ngành các cấp thuộc Chính phủ.


Do đó, để rút kinh nghiệm trong việc quản lý ODA, Chính phủ đã giao cho các ngành chức năng xem xét để chấn chỉnh cơ chế xử lý. Bộ Tài chính và một số Bộ chức năng cũng đã ngồi lại để quy về một đầu mối quản lý, thứ hai là có cơ chế kiểm soát từ đầu đến cuối, thứ ba là giải quyết được cái vướng giữa mình với đối tác nước ngoài. Không thể khoán trắng, không thể buông tay và đặc biệt không để tình trạng có những đánh giá khác nhau như vừa qua.


Cảm ơn ông!

Theo VnMedia