Tính hợp lệ của bảo đảm dự thầu

Tình huống: Ban Quản lý dự án A (QLDA) tổ chức đấu thầu rộng rãi quốc tế gói thầu Cung cấp các thiết bị từ nguồn vốn ODA của Chính phủ CHLB Đức. Về ngôn ngữ trong đấu thầu, hồ sơ mời thầu (HSMT) quy định: “Hồ sơ dự thầu (HSDT), tất cả thư tín và các tài liệu liên quan đến đấu thầu giữa nhà thầu và bên mời thầu đều phải bằng ngôn ngữ tiếng Anh. Các dữ liệu đính kèm của nhà thầu có thể bằng ngôn ngữ khác nhưng phải kèm theo bản dịch chính xác những phần có liên quan sang ngôn ngữ tiếng Anh để phục vụ cho mục đích giải thích HSDT. Bản dịch tiếng Anh có tính chất quyết định“.

HSDT của nhà thầu X có bảo đảm dự thầu theo hình thức bảo lãnh của một ngân hàng Việt Nam phát hành bằng tiếng Việt, kèm theo bản dịch bằng tiếng Anh có công chúng hợp lệ. Bảo lãnh dự thầu này có giá trị, thời gian hiệu lực và các nội dung khác theo đúng yêu cầu của HSMT.

Trong quá trình đánh giá HSDT, các thành viên trong Tổ chuyên gia đấu thầu có hai luồng ý kiến như sau:

- Nhóm thứ nhất cho rằng, bảo đảm dự thầu trên là hợp lệ vì không vi phạm điều kiện tiên quyết về bảo đảm dự thầu.

- Ngược lại, nhóm thứ hai có ý kiến loại nhà thầu này vì đã không nộp giấy bảo lãnh dự thầu bản gốc bằng tiếng Anh theo quy định trong HSMT.

1bao%20dam Tính hợp lệ của bảo đảm dự thầu

Hỏi:

Tình huống trên nêu được xử lý như thế nào cho phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu?

Trả lời:

Bảo đảm dự thầu là việc nhà thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh để bảo đảm trách nhiệm dự thầu của nhà thầu theo thời gian quy định trong HSMT. Nếu nhà thầu vi phạm pháp luật đấu thầu khi tham dự thầu, sẽ bị tịch thu bảo đảm dự thầu. Vì vậy, việc quy định tính hợp lệ của bảo đảm dự thầu rất quan trọng để việc xử lý, tịch thu bảo đảm dự thầu là khả thi. Tại Nghị định số 58/2008/NĐ-CP (điểm b khoản 2 điều 23) quy định về điều kiện tiên quyết để loại bỏ HSDT nếu như bảo đảm dự thầu không hợp lệ. Theo đó, bảo đảm dự  thầu không hợp lệ nếu: (i) có giá trị thấp hơn; (ii) không đúng đồng tiền quy định; (iii) thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu ngắn hơn; (iv) không nộp theo địa chỉ và thời gian quy định trong HSMT; (v) không đúng tên nhà thầu. Những nội dung này phải ghi rõ trong HSMT để làm cơ sở loại bỏ HSDT khi bảo đảm dự thầu của nhà thầu vi phạm.

Trở lại với trường hơp trên, nếu xét theo những quy định về bảo đảm dự thầu không hợp lệ nêu trên thì bảo đảm dự thầu (thư bảo lãnh của ngân hàng Việt Nam của nhà thầu X không vi phạm. Xét một cách logic thì nếu như nhà thầu X rút HSDT sau thời điểm đóng thầu, trúng thầu nhưng không tiến hành thương thảo hoàn thiện hợp đồng… thì Ban QLDA (bên mời thầu) vẫn áp dụng được biện pháp tịch thu bảo đảm dự thầu vì thư bảo lãnh của ngân hàng cho nhà thầu X vẫn đáp ứng được. Vì vậy, quan điểm thứ nhất về bảo đảm dự thầu (thư bảo lãnh dự thầu) của nhà thầu X là hợp lệ.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại các Mẫu HSMT do Bộ kế hoạch và Đầu tư ban hành, HSDT do nhà thầu chuẩn bị phải bao gồm các nội dung: (i) Đơn dự thầu; (ii) Giá dự thầu và biểu giá ; (iii) Tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu…(iv) Tài liệu chứng minh tư cách  hợp lệ và sự phù hợp …(v) Bảo đảm dự thầu; (vi) các nội dung khác… Như vây, bảo đảm dự thầu là một nội dung trong HSDT và nếu thực hiênh theo hình thức bảo lãnh của ngân hàng bằng tiếng Anh mà nhà thầu X lại nộp bản gốc bằng tiếng Việt thì ý kiến của nhóm thứ hai cũng có cơ sở vì theo quy định trong HSMT là “Hồ sơ dự thầu… phải bằng ngôn ngữ tiếng Anh…”.

Ngoài ra, gói thầu trên thuộc dự án sử dụng vốn ODA của Chính phủ CHLB Đức nên Chủ đầu tư cần tham khảo ý kiến của nhà tài trợ vì theo quy định tại điều 3 của Luật Đấu thầu: “Đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, việc đấu thầu được thực hiện trên cơ sở nội dung điều ước Quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên hoặc thoả thuận quốc tế mà tổ chức, cơ quan có thẩm quyền của nước CHXHCN Việt Nam đã ký kết”.

Trong trường hợp có các ý kiến xử lý khác nhau thì coi là tình huống đấu thầu. Việc xử lý tình huống đấu thầu thuộc trách nhiệm của người có thẩm quyền quyết định trên cơ sở đảm bảo mục tiêu của công tác đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế (Điều 70 của Luật Đấu thầu).

Theo Báo Đấu thầu